Tại Việt Nam, một sợ hải mới phát sinh về sự xâm chiếm của Trung Cộng

Ngày 30 tháng 04 năm 2013   —    

Ba mươi năm trước, những người lính Việt Nam (CSVN ) tiến hành một trận chiến cuối cùng, ở những ngọn đồi Lạng Sơn gần biên giới phía bắc của đất nước để đẩy lùi quân địch. Cả hai bên đều bị tổn thất nặng, nhưng Việt Nam cuối cùng tuyên bố chiến thắng.  

Nhiều thập kỷ sau đó, quan hệ ngoại giao đã được phục hồi và hai quốc gia, ít nhất là ở nơi công cộng, gọi nhau như một người bạn. Kẻ thù cũ của Việt Nam là nhà đầu tư lớn trong nước, thương mại song phương hiện tại ở mức cao nhất và khách du lịch – chứ không phải quân đội – đang đổ vào VN là người Trung Quốc – không phải là người Mỹ.   

Là một phần của một nỗ lực tích cực để mở rộng ảnh hưởng thương mại và chính trị trong khu vực Đông Nam Á, Trung Quốc đầu tư mạnh vào Việt Nam. Các công ty Trung Quốc đang tham gia vào các dự án xây dựng trục lộ giao thông, hoạt động khai thác hầm mỏ và nhà máy điện. Tuy nhiên, mặc dù trên thực tế, sự hợp tác giữa hai quốc gia cộng sản đang được khuyến khích bởi các nhà lãnh đạo của Việt Nam, cuộc xâm lược thân thiện nầy không mấy tốt đẹp cho một  dân tộc đã từng chống trả Trung Quốc trong hơn một ngàn năm và gần đây nhất là vào năm 1979. 

Nhiều người Việt Nam lo ngại rằng đảng CSVN đang trao chìa khóa cho Trung Cộng, không chỉ là nguồn tài nguyên thiên nhiên của đất nước VN mà còn các khu vực chiến lược nhạy cảm, đe dọa an ninh của quốc gia. Một cảnh báo: “Mối nguy hiểm là Trung Quốc đã giành được hầu hết công tác dự thầu xây dựng nhà máy xi măng, nhà máy điện, nhà máy hóa chất”, ông Nguyễn Văn Thụ, Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp Cơ khí Việt Nam nói: “Họ ăn tất cả mọi thứ và không để lại gì hết.”

Ông Thu nghi ngờ một số công ty Trung Quốc đã giành được hợp đồng xây dựng bằng cách nộp hồ sơ dự thầu với giá thấp, điều nầy có thể nói lên sản phẩm của họ khi bán trên thị trường sẽ không đúng tiêu chuẩn như đã ký, đe dọa kém chất lượng và an toàn. Tuy nhiên, mối quan tâm lớn nhất của ông Thu là một số lượng lớn công nhân Trung Quốc, bao gồm cả đầu bếp, nhân viên làm sạch sẻ, giành mất công ăn việc làm của người Việt Nam và đe dọa sự ổn định xã hội của đất nước. Ông Thu tuyên bố: “Các nhà thầu Trung Quốc mang lại tất cả mọi thứ ở đây, ngay cả cái bàn cầu! … Đây là những vật liệu Việt Nam có thể sản xuất, và những công việc mà Việt Nam có thể làm.”

Một dấy động mới nhất cho tình cảm chống Trung Quốc là kế hoạch của Hà Nội cho phép các công ty nhỏ của Tổng công ty Nhôm Trung Quốc (Chinalco) khai thác quặng bauxite ở Tây Nguyên, Việt Nam. Bauxite là một thành phần quan trọng trong nhôm, mà Trung Quốc cần để làm nhiên liệu cho ngành công nghiệp xây dựng. Việt Nam có một ước tính khoản 8 tỷ tấn bauxite có chất lượng cao, một dự trữ lớn thứ ba trên thế giới.  

Tuy nhiên, Chi phí về môi trường đối với ngành khai thác khoáng sản, có thể rất nhiều tốn kém – hậu quả của sự khai thác, làm cho đất bị tổn thương và sự chế biến bauxite tạo ra một loại bùn đỏ độc hại có thể thấm vào nguồn cung cấp nước nếu không được giử lại trong những bồn chứa. Một số nhà khoa học cao cấp của Việt Nam cũng như các ”phong trào xanh” đang phát triển của Việt Nam đã đặt câu hỏi về sự khôn ngoan cho phép TQ cái quyền khai thác khoáng sản – các khu mỏ đã phải đóng cửa vì đã gây ra những thiệt hại lớn cho môi trường.

Sự chống đối thật sự – dường như về môi trường thì ít nhưng về nỗi sợ hãi của nước láng giềng Việt Nam trên biên giới phía bắc của đất nước thì nhiều. Nhóm dân tộc chủ nghĩa cáo buộc Hà Nội khuất phục trước áp lực của TQ từ khao khát một thị trường tiêu thụ hàng hóa,  tiếp theo cho phép TQ khai thác các dự án khoáng sản.  

Trên mạng, Blogger đang nói lên một lo ngại, làn sóng công nhân Trung Quốc là một phần chiến lược dài hạn của Bắc Kinh nhằm chiếm đóng đất nước VN. Thành viên các nhóm ủng hộ dân chủ trong nước cho đây là cơ hội tốt để chỉ trích chính quyền độc tài CSVN, gọi công việc khai thác là một “chương trình gây nên tình trạng xấu.”  

Đầu tháng này, một nhà sư Phật giáo bất đồng chính kiến, Thích Quảng Độ, nói rằng việc khai thác Bauxite sẽ phá hoại cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu số trong khu vực. Ông nói thêm, dự án tạo ra “một hình ảnh (minh họa) về sự phụ thuộc của Việt Nam vào Trung Quốc.” Hiện tại, trong khi đó thì không có sự phản đối kịch liệt như vậy đối với kế hoạch khai thác nhôm của công ty khổng lồ Hoa Kỳ Alcoa ở hai địa điểm trên địa bàn tỉnh Đắk Nông ở Tây Nguyên.

Nhưng có lẽ điều bất ngờ nhất, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nhà lãnh đạo quân sự Việt Nam được tôn kính, đã giúp đánh bại Pháp và sau đó là Mỹ -. trong lá thư gởi đến Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng, vị anh hùng có 97 năm tuổi chiến tranh, đã lên tiếng lo ngại, có một số lượng lớn người Trung Quốc ở các vùng Tây Nguyên miền Trung, một cửa ngõ chiến lược với Việt Nam, một trong những nơi mà trận chiến đã được chiến thắng và đã bị chiến bại .

Các quốc gia khác trong khu vực đang lấy làm khó chịu bởi cơn khao khát tài nguyên của Trung Quốc. Tháng trước, chính phủ Úc đã từ chối giá 1,8 tỷ của công ty khai thác mỏ Minerals của Trung Quốc mua lại món nợ OZ Minerals – mỏ kẻm lớn thứ hai trên thế giới – do những mối lo ngại an ninh quốc gia. Vì mỏ kẻm OZ Minerals có những hoạt động gần khu vực thử nghiệm vũ khí Woomera Úc.

Chính phủ Hà Nội nói rằng họ đang lắng nghe những mối quan tâm, nhưng dường như là không hề thay đổi quyết định. Ông Dũng mới đây tuyên bố khai thác bô xít là “chủ trương lớn của đảng và nhà nước”. Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải khẳng định sự hỗ trợ của chính phủ, và một số ít quan chức địa phương tỉnh bảo vệ dự án tại một hội nghị khai thác gần đây, lập luận rằng, mặc dù có sự hiện diện của công nhân Trung Quốc, dân tộc người thiểu số nghèo khổ sống trong khu vực sẻ được hưởng lợi về sự phát triển nầy.

Áp lực đối với Việt Nam để tiến hành theo kế hoạch là rất lớn -theo ông Carl A. Thayer, một chuyên gia về Việt Nam đang giảng dạy tại trường Đại học New South Wales của Úc, Học viện Lực lượng Quốc phòng – Việt Nam cần buôn bán với Trung Quốc, nền kinh tế lớn thứ ba thế giới, để tồn tại. Ông Thayer nhìn nhận rằng không có công ty Trung Quốc hoạt động độc lập với chính phủ VN. “Nếu bạn đi xa hơn, bạn sẽ tìm thấy một lực lượng quân sự hoặc an ninh, nhưng có một cuộc xâm lăng của Trung Quốc không?  Tôi không tin điều đó.”

Một số vấn đề khó khăn riêng tư của Việt Nam, theo quan sát của Thayer – Quốc gia này đã trở nên ngày càng phụ thuộc vào các đầu tư trực tiếp từ nước ngoài đến như là cái phao cho nền kinh tế của VN. Năm ngoái, các nhà đầu tư nước ngoài đã hủy bỏ con số đầu tư kỷ lục 11,5 tỷ USD vào Việt Nam. Trung Quốc năm ngoái đã có 73 dự án đầu tư trị giá 334 triệu USD ở trong nước. Nhưng trong sự suy thoái kinh tế toàn cầu, đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm mạnh 70% trong tam cá nguyệt đầu tiên của năm 2009 so với cùng thời gian năm ngoái.

Hà Nội đã kêu gọi gia tăng đầu tư, và thậm chí còn tuyệt vọng số tiền đầu tư đổ vào VN từ bên ngoài trong khi nền kinh tế VN đã bị suy thoái. Việt Nam lại còn bị chồng chất thâm hụt thương mại lớn với Trung Quốc ( từ 9 tỷ USD năm 2007 tăng lên thành 16,4 tỷ USD vào năm 2012 ). 

Nhiều liên doanh công ty Trung Quốc tràn qua biên giới và hàng triệu người TQ tản mác vào các dự án đầu tư mới. Hà Nội không thể khống chế tất cả các điều khoản của các dự án. hoặc cũng không có thể ngăn chặn làn sóng lan rộng của người TQ . 

”Người Việt Nam phải cẩn thận về những gì mà họ mong muốn”, ông Thayer nói. 

Là một thảm họa cho Việt Nam không ? 

̣PVT. ( Phỏng dịch  theo bài viết  Anh ngữ của Martha Ann Overland)