Sông nước Hậu giang và Nguyễn Ngọc Tư

Ngay 17 thang 02 nam 2015       —

[ Bài 2: Trích đoạn Sông nước Hậu giang và Nguyễn Ngọc củsTư , tiếp theo Bài 1: Cái rầu bất tận của Nguyễn ngọc Tư  của ông Kiệt Tấn ]

Nắng Hậu giang mưa Tiền giang
Nhìn nhau mà lệ rớt hai hàng
Câu ca vọng cổ chìm trong tối
Mùi mẫn còn rung dưới nguyệt tàn
 
Còn một thứ không thể nào thiếu được trong tất cả các truyện của Nguyễn Ngọc Tư.  Đó là sông nước: sông bốn phía, nước tư bề!  Quơ chỗ nào cũng đụng nước, ngó chỗ nào cũng thấy sông.  Nước là nền, sông là dòng cho ngòi bút của Tư triền miên tuôn chảy, cuốn theo những chữ nghĩa đầy ắp tình người như phù sa lợn cợn.  Sinh đẻ ở miệt Hậu giang, gắn bó với cuộc đất Cà Mau như Tư thì cũng không thể nào khác hơn đượcDứt sông là dứt hơi thở, cạn nước là cạn máu huyết.  Là mất hết cái lẽ sống còn.  Tư đặt tựa truyện: Dòng nhớ (tr. 47).  Nhớ gì?  Nhớ sông (tr. 154).  Nhớ sông, nhớ nước, nhớ da diết, nhớ dai dẳng, nhớ muốn khùng, nhớ muốn điên.   Nhắm mắt vẫn thấy, hôn mê vẫn thấy.  Thấy hoài thấy hủy. 
“(…) chuyện xảy ra lâu rồi, nhưng người ta vẫn còn nhớ, vẫn còn cắm sào trước bến nhớ ba tôi, vậy mà biểu ba tôi quên cái rụp thì làm sao quên được” (tr. 51).  Cắm sào thì cắm sào, đậu bến thì đậu bến, nhưng “người ta nhớ thương đứt ruột có thể chạy ào lại để gặp nhau, nhưng vì lương tâm không làm được, đành ngồi đây ngó lên, ngồi ở trên ngó xuống” (tr. 56)
 
Những đêm đó, ba tôi hút thuốc dữ, cứ nhìn chong chong ra ngọn đèn đỏ ối, nhỏ nhoi, buồn hiu ngoài kia” (tr. 51)  Tâm can rời rã, tuy có mặt đó mà cũng đồng thời vắng mặt: “Ông đang ở đây nhưng tâm hồn ông, trái tim ông, tấm lòng ông chảy tan vào dòng nước tự lâu rồi” (tr. 50)
Người đàn bà muốn giúp cho chồng mình chấm dứt dòng nhớ.  Nhưng liệu được chăng khi dòng sông vẫn còn đó, con nước vẫn trôi hoài, vẫn trôi xa tắp về miền bất tận.  “Đó là nỗ lực cuối cùng má tôi làm để chấm dứt cái cảnh ba nằm bên má mà hồn vẫn hướng về những dòng sông miên man chảy” (tr. 57). 
 
Những dòng sông…  Ôi! Những dòng sông… khiến chợt nhớ thơ Nguyễn Bính: “Sông đụng đâu sông, sông gặp sông,  Thuyền xuôi theo nước, nước theo dòng.  Người về người gặp quê người đó,  Ta gặp ai đây giữa bụi hồng?
 
Bây giờ hỏi lại, Giang nói không có con kinh, con rạch nào mà ghe chưa đi qua, không có đường ngang ngõ tắt nào mà ông Chín không biết.  Xuôi dòng, ngược dòng, con nước kém, con nước rong…  Không ai nói với ai, nhưng cả nhà ông đều nghĩ, chắc là sống như vầy hoài, như vầy mãi thôi.  Chị em Giang đùa nhau, sau này lấy chồng ra riêng, ba cho mỗi đứa một chiếc ghe” (tr. 156)
Rồi cái mộng ước định cư trên đất liền của ba đã (hay gần như) trở thành sự thật:  Giang lên bờ, lấy chồng tên Thuấn ở Đập Sậy, có đất làm ruộng.  Những tưởng một khi đã lên bờ định cư rồi là quên được sông.  Nhưng liệu quên được không?  Thỉnh thoảng ông Chín ghé qua nhà Thuấn thăm con gái và nhậu tì tì với thằng rể tốt bụng.  “Ghé Đập Sậy, Giang đòi ông Chín ở lại một đêm, cho Giang xuống ghe ngủ với con Thủy.  Giang than nức nở, “Trời ơi con nhớ ghe quá trời đất đi”.  Xuống ghe, Giang đưa tay rờ rẫm từng món hàng, từng miếng sạp” (tr. 157).  Rưọu vô ngà ngà, Thuấn than thở với ông già vợ của mình: Thường thì cơm nước, quét dọn xong, để hở ra giờ nào Giang lấy xuồng chèo đi giờ ấy.  Trời đất, nó đi đâu?  Thuấn cười chua chát, “Hổng biết, nó chèo khơi khơi vậy đó ba à, con cũng nghi bậy trong bụng, có bữa con rình đi theo, vợ con chèo đã đời rồi nó buông chèo lủi vô đám lá, lấy tay vịn, ngồi ở đó.  Rồi chèo về, vậy à” (tr. 158).
 
Trời ơi!  Nhớ tới nước này thì phải gọi là ghiền mới phải.  Nhớ sông!  Hay là ghiền sông, ghiền nước, ghiền bơi, ghiền chèo, ghiền cái mui ghe, ghiền cái sạp nằm, ghiền con sóng lăn tăn, ghiền dòng phù sa ngầu đục, ghiền tiếng nước khua bì bõm?  Mà một khi đã ghiền tới mức này là kể như hết thuốc chữa.  Chỉ còn nước trả Giang lại cho sông nước mà thôi.
 
Cửa sau nhà tôi trông ra sông.  Tôi thường ví đó là một khung tranh, có lúc nó hiện lên những chiếc tàu cao nghệu, hùng hục đi qua, che khuất cả dãy nhà sàn bên kia sông…” (tr. 163)…  “Chỗ tôi ngồi có chiếc võng con giăng ngang căn chòi de ra mép nước” (tr. 165).  Nhà sàn còn đó, con đò còn đó, võng giăng còn đó, mà tiếng “ầu ơ” ru em đã vỗ cánh bay đi mất biệt tự lúc nàoCó lẽ kể từ sau năm 75, kể từ lúc Tư chào đời và ngủ đưa trên võng, không còn ai nhớ hát ru con bằng những câu ca dao “ầu ơ ví dầu” nữa.
 
                                Nắng Tiền giang  mưa Hậu giang
                                Xe lam về tới miệt Ba Càng
                                Ruộng khô thổi nóng lùa chưn tóc
                                Tóc em thơm phức mùi dưa gang
 
Nhưng liệu nói như vậy mà đã bày tỏ hết được tấm lòng của mình chưa?  Chưa!  Tư còn có thêm một cái chợ nữa: Chợ của má.  “Tôi gọi những cái chợ ruộng dân dã này là chợ của má.  Bởi nó hiền lành, lam lũ như má.  Bởi chợ nhỏ nhoi, khiêm tốn như má, nhưng nó mang một cái hồn sâu, mênh mông lắm nên người ta nhắc nhở hoài, thương hoài như thương… má vậy” (tr. 151).  Trong chợ của má, những người buôn thúng bán bưng là những ai?  “Họ là những người gắn bó máu thịt với cảnh chợ quê này không chỉ vì mưu sinh mà là mối gắn bó thiêng liêng.  Không có rau, không đi chợ, đâm… buồn.  Có người lặn lội đi bán từng trái bình bát chín, không đủ tiền xe thì đi bộ, “miễn sao đỡ ghiền chợ” (tr. 153).  Ở thành thị người ta ghiền quyền lực, ghiền tiền bạc, ghiền karaôkê, ghiền bia ôm, ghiền xăng nhớt, ghiền ma túy thì ở miệt ruộng rẫy này, người dân quê họ… ghiền chợ!  Một loại ghiền rất tốt cho sức khỏe và càng thắt chặt thêm tình nghĩa xóm làng.
 
Đi vào thế giới Tạp văn của Nguyễn Ngọc Tư, người ta bắt gặp một trời một biển tình thương và gắn bó.  Và cũng chính vì bởi gắn bó liền tay liền ruột với đất đai mà người dân quê phải gánh chịu biết bao là phũ phàng cay đắng, biết bao là nợ nần chồng chất, biết bao là thất vọng ê chềĐôi ba người tự tử, rất nhiều người bắt buộc phải bán rẻ đất nhà mà ngậm ngùi bỏ xứ ra đi trong hờn tủi và nước mắt
  
những người hào sảng đậm đặc chất nam bộ.  Đàn ông nhậu một mâm thì đàn bà cũng một mâm.  Đàn ông say thì ca vọng cổ, (…) đàn bà say chỉ nhảy múa cho vơi hơi rượu đi” (tr. 24)  Rất nhiều người từ đầm đã ra đi để thành lập những xóm nổi tiếng là kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ thời trướcNguời dân móc ruột mình ra mà nuôi cán bộ, sống chết với cách mạng” (tr. 24Sống thì không biết sao, chớ chết thì thấy rõ trước mắt.  Chết để nuôi hy vọng cho những ngày mai tươi đẹp huy hoàng, chết trong niềm mơ ước một tương lai xán lạn rực rỡ cho con cháu mình mai sau, dĩ nhiên.  Để rồi coi.  Nhưng còn cái đầm?  Đầm Thị Tường bây giờ ra sao?  “Chuyện cá tôm nhiều vô kể quanh năm, chuyện một chiếc xuồng con với vài tay lưới có thể nuôi cả gia đình đã quá xa vời.  Chuyện xuồng đi tới đâu cá nược đuổi theo đến đấy chỉ còn là cổ tích” (tr. 25).  Phải.  Cổ tích, nhưng mà là một cổ tích kết cuộc không có hậu.  Buồn năm phút!  Hay buồn năm ngày, năm tháng, năm năm?  Buồn dài dài…  Buồn mút mùa lệ thủy!
 
Nhưng khét tiếng chống Pháp và “chống Mỹ cứu nước” đâu phải chỉ có mỗi một mình cái Đầm Thị Tường.  Còn một cái xã oanh liệt khác nữa.  Nó là một trong ba xã vây quanh đầm.  Ở đó cũng có toàn là dũng sĩ cứu nước, và toàn là bà già giết giặc hết trơn chớ bộ.  Thiếu gì.  Đếm không hết.  Ở đâu?  Thì ở Hưng Mỹ chớ đâu.  Người dân Hưng Mỹ can trường và trung kiên số một.  “Nhớ những người dân áo vá, tay lấm chân bùn nhưng một lòng theo Đảng, theo cách mạng.  Nhớ hàng ngàn cái hầm đào dưới những vườn dừa bạt ngàn mà người Pháp người Mỹ không tìm được lối vào vì miệng hầm nằm trong trái tim mỗi cụ già, em nhỏ” (tr. 43)  Đó thấy chưa?  Nói có trật chút nào đâu.  Tới em nhỏ cũng là “con nít giết giặc” luôn nữa, huống hồ là mấy bà già và mấy ông già!
 
Nhưng bây giờ thì sao?  Xã Hưng Mỹ le lói tới mức nào sau cái ngày “giải phóng” năm 75Ba mươi tháng tư này nữa là tròn 29 năm hòa bình.  Con đường quốc lộ về ngang qua xã vẫn ca hoài bài “Đường chỉ đẹp những khi còn… dang dở”.  Xã có 3911 hộ, đã ngót 251 hộ nghèo, 13 ấp thì một ấp rưỡi chưa có lưới điện” (tr. 43).  Chỉ tiêu mà đạt đến mức đó thì quả thực là cao cấp, còn thành tích thì hết sức là hoành tráng, vậy còn đòi hỏi gì nữa cơ chứ?  “Bây giờ đất này còn nghèo hơn trước, cái nghèo lừa mị người xứ xa, lừa mị những ông quan kinh lý ưa kiểm tra lớt lớt” (tr. 44).  Kiểm tra lớt lớt là kiểm tra như thế nào cơ chứ?  Này!  Định xúc phạm và phá hoại Nhà nước đấy phỏng?  Nhà nước đang bù đầu  để xử lý một vấn đề lớn lao và trọng tâm vô cùng là vấn đề giáo dục.  Vậy thì yêu cầu đường sá, điện nước lẻ tẻ làm chi mà lắm thế?  “Hỏi cô con gái tên Trang đã học tới lớp mấy rồi, cô cười, nghèo quá, mấy anh em em hổng ai biết chữ” (tr. 45)  Không biết chữ thì phải đi học chữ lấy một mình.  Nhà nước đâu thể học chữ giùm cho nhân dân được!  Nhưng đâu phải chỉ có mỗi một cái “hổng ai biết chữ”.  Hưng Mỹ còn có rất nhiều cái “hỏng có” khác nữa.  “Hồi đó Thị Tường có “ba không”, không theo giặc, không bỏ Đảng, không bỏ cách mạng.  Bây giờ thì “tùm lum không”.  Không gạo, không tiền, không cá, không rau cỏ…” (tr. 47)  Này này!  Hết phá hoại Nhà nước, bây giờ còn định bôi bác chế độ đấy phỏng?
Nghe mấy ông thầy coi nước nói năm nay tôm tép khá lắm đây (…)  Không biết có phải là những lời an ủi, vực nhau đứng dậy rồi bị đồn đại ra không, nhưng tôi biết ơn mấy ông lắm lắm, khi nhen lại cái khát vọng sống trong lòng người Hưng Mỹ.  Ờ, sống để mà bước tới” (tr. 50).
 
Từ xưa đến nay, hy vọng vẫn luôn luôn là liều thuốc trị được bá bịnh – trừ bịnh ỉa chảy dĩ nhiên!  Chú Hai sạt nghiệp vì đổi qua nghề nuôi vịt, nhưng ác thay, lại trúng nhằm mùa dịch cúm gia cầm.  Nợ ngân hàng lút đầu.  Vậy mà trong nhà vẫn không ngớt tiếng cười rộn rã.  “Rầu cũng nghèo mà cười cũng nghèo, sao mình hỏng cười, hỏng hy vọng cho đỡ khổ hả cô?” (tr. 113)  Chí lý!  Thiếm Hai duy vật biện chứng Mác Lê như vậy rất là chí lý, nghe lọt lỗ tai hết cỡ nói.  Dân Hậu giang ta bao giờ cũng lạc quan… hết thuốc chữa.  Vì có sao đâu?  “Lúa thất thì hy vọng trúng mùa sau, giá rẻ như bèo thì cứ đinh ninh năm sau sẽ được giá.  Lứa này tôm chết thì chờ lứa sau, lúc thả bọc tôm nhỏ như cây kim xuống đầm, vẫn mong mai này còn gặp lại chúng” (tr. 113/114).  Tư chợt bừng mắt trước một điều hết sức hiển nhiên hiển nhiên tới mức người ta không để ý, như cái không khí mình đang thở chẳng hạnTôi nhận ra rằng, nông dân mình xưa rày có món đặc sản “độc” lắm, nhờ món đó mà họ sống từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ đời này sang đời khác.  Đó là “hy vọng (tr. 113)
 
Hết vớt tôm chết thì tới chôn vịt sống.  Hết cúm gia cầm thì có liền “bão tôm” thổi tới “từ tốn, lặng lẽ, mà bào mòn sức chịu đựng của con người”.  Lo gì!  “Vớt từng con tôm nhỏ bằng ngón tay út lên lòng rưng rức, đứt ruột (…)  Có ai làm gì nó đâu mà nó chết, mình quý nó còn hơn mạng mình nữa mà? (…)  Má tá hỏa khi biết hầu hết tôm giống trên thị trường không hề được kiểm dịch” (tr. 118)  Này!  Đừng có vu oan cho Nhà nước nhé cô Tư!  Nhà nước ta ngày đêm không ngừng lo lắng đào sâu giải pháp cho nhân dân.  Nhà nước không ngừng quy hoạch, không ngừng chuyển dịch cơ cấu sản xuất.  Người khác chỉ rành có sáu câu, chứ Nhà nước ta thì rành tới sáu câu… rưỡi.  “Người dân bao đời gắn bó với cây lúa bây giờ nôn nả cho nước mặn vào đồng để nuôi tôm” (tr. 99).  Cũng hợp lý thôi.  Cây lúa cần nhiều nước ngọt mà thu hoạch lại quá ít ỏi thì thay nước mặn vào!  Còn chờ gì nữa?  “Chỉ mới một mùa tôm (đầu) thôi, bác à, nhưng đó là mùa tôm người nông dân vùng chuyển dịch vắt kiệt mình ra trước bao nỗi cực nhọc, buồn vui” (tr. 116)  Vắt kiệt?  Cô đừng có quá nhời chứ cô Tư.  Đã vắt kiệt rồi thì làm sao vẫn cứ còn vắt hoài được hoài?  “Chuyện tôm chết nông dân đã rành sáu câu rồi, chỉ khác, đây là năm thứ tư tôm chết, nghĩa là năm thứ tư nông dân Cà Mau vắt kiệt mình trong nỗi lo đói nghèo” (tr. 108).  Năm thứ tư?  Tội nghiệp quá nhỉ?  Nhưng ba bốn năm nay chịu đựng nổi, chắc bà con nông dân ta vẫn hãy còn đủ hy vọng để mà lướt qua năm thứ năm.  Và không chừng còn “dư sức qua cầu” luôn năm thứ sáu.
 
Mùa “bão tôm” từ tốn và nạn tôm chết hà rầm dàn trải lê thê trên nhiều bài viết của Tư trong Tạp văn: Ngậm ngùi Hưng Mỹ, Thư từ quê, Đi qua những cơn bão khô, Chờ đợi những mùa tôm, Gió mùa thao thức...  Trong cảnh cùng quẩn, người dân quê ngước nhìn lên “trên” để mong cứu giúp.  “Trên” đây không phải là “trên Trời” hay “ơn Trên”, mà là “ở trên”.  Rồi “ở trên” mới ra tay ban phép mầu ra làm sao?  “Mấy ông Nhà nước không nghĩ ra cách nào cứu tụi tui, để vầy hoài, hai năm nữa không chết đói cũng chết vì trộm cướp cho cô coi, bần cùng sanh đạo tặc, ông bà mình dạy vậy” (tr. 108)  Làm gì mà lo xa quá vậy?  Mới chỉ có bấy nhiêu đấy thôi mà bà con đã kêu trời như bộng!  Cũng tại bà con hết đấy chứ.  “Báo chí than bà con mình thiếu thông tin, thiếu hiểu biết rầm trời, các chú “ở trên” nhằn, bà con mình nóng vội quá” (tr. 118)  Thì lỗi tại bà con rành rành đây nàyThuở đời nay, năm nào mấy ổng cũng lên ti vi kêu năm này phấn đấu đạt năng suất cao hơn năm trước, khuyến khích giống mới này trúng hơn giống cũ, vậy mà làm ra hột lúa trần thân, bán không có giá, mấy ổng đổ thừa tại nông dân làm cho cố mạng nên bán không được” (tr. 184)  Nhưng đổ thừa như vậy cũng đâu có trật.  Làm chi mà làm cho cố sát, ai mà ăn dộng cho hết.  Hơn nữa, bây giờ bà con ta lại còn bày đặt “phấn đấu” với lại “năng suất” năng siết rùm beng Hồi xưa ở Cờ Đỏ, má tui cũng có một thời cày thuê cấy mướn, nhưng đâu có biết “phấn đấu” với “năng suất” là cái khỉ mốc gì!  Vậy mà vẫn có gạo ăn hoài hoài.
 
Bà con cứ đòi hỏi Nhà nước phải có bổn phận đối với nhân dân.  Chớ còn cái bổn phận của nhân dân đối với Nhà nước bà con để nó ở đâu?  Bộ quăng nó cho chó ăn hết rồi hả?  “Khi đôi bàn tay gầy guộc của tôi vuốt lại những tờ bạc lẻ nhàu nát lem luốc mồ hôi, dầu nhớt… để nộp thuế cho đằng phường, nghĩ tới mấy vụ tham nhũng động trời ngay tại quê mình, nghĩ tới những bữa tiệc vung vinh tiền triệu, chắc cái mặt tôi buồn hết biết, mà tôi còn khóc, hổng chừng…” (tr. 166)  Thôi mà Tư!  “Lau mắt đi em, đêm đã khuya rồi, buồn chi nữa em?”  Tư hãy bắt chước cái lạc quan kinh niên của má mình.  “Ai biểu làm nông dân làm chi.  Chỉ hy vọng mấy ông “ở trển” làm cách nào cho dân bớt khổ, má tôi nhấn mạnh, bằng cái giọng hết sức tin tưởng, “Mấy ổng hứa rồi… (tr. 185).  Đó thấy chưa!  Ngày nào mà mấy ổng còn hứa thì bà con ta vẫn còn có “quyền” hy vọng.  Hy vọng dâng cao, hy vọng miên man, hy vọng  tràn trề, không biết để đâu cho hết.  Vậy thì bà con còn than cái nỗi gì?  “Thôi thôi…  Đủ lắm rồi!  Xin đổi giùm cho tuồng khác.  Thành thật cám ơn đồng chí”.
  
Ai cũng có một bà mẹ để mà ôm ấp, để mà thương, để mà nhớ.  Đối với tôi, tiếng “” gợi hình ảnh những “bà già quê hương”, những bà già có làn da nhăn nheo thơm tho mùi đất, có bàn chân nứt nẻ phù sa, có trái tim từ bi vô lượng, trái tim đó đã bơm máu vào cuống rún tôi từ lúc tôi còn nhỏ xíu, lớn chưa bằng đầu ngón tay.  Má tôi là một trong những bà già quê hương đó.
 
Đối với tôi thì là vậy.  Nhưng đối với Tư, tiếng má gợi lên hình ảnh gì?  “Má tôi là nông dân, suốt quãng thời gian cầm bút, mỗi khi tôi viết về người nông dân tôi lại nghĩ tới má.  Trong tôi hiện lên một khuôn mặt sạm đen nửa đêm thao thức, nghe gió về lo lúa đang trổ ngoài đồng bị lép hạt” (tr. 154).  Mà đâu phải chỉ có lo suông vậy thôi.  Má làm quần quật cả ngày.  Làm từ sáng sớm tới trưa, từ trưa tới chiều, từ chiều tới sẫm tối.  Có khi ban đêm cũng làm luôn.  Làm ruộng, trồng rau, tưới rẫy, làm giàn cho dưa leo, mướp, đậu rồng, xới đất, lên giồng, xách nước…  Bấy nhiêu công việc đó theo ngày tháng đã dần dần biến hai bàn tay má trở thành “cục mịch, với những đốt xương thô mà sàng gạo như múa trong trưa vắng (…)  Kẽ tay má đầy những mảng nước ăn, đau nhức tới từng đốt xương sao má không than hả má?” (tr. 154/155).  Đã là dân quê mà lại còn làm ruộng thì tới mùa cày cấy, má phải lội bùn, lội nước vô cùng vất vả.  Lội năm này qua tháng nọ.  “Đôi chân ấy từ mười tuổi đã biết khóc.  Chân má ngắn, ngón ngắn, chỉ rộng bề ngang nên nhìn nó to bè bè” (tr. 182).  Ngó thấy bàn chưn má sần sùi nứt nẻ Tư cũng xót ruột lắm.  Thỉnh thoảng Tư bỏ ra chút thơì giờ để chăm sóc cho má.  “Lâu lâu, như buổi tối nay, tôi nơ chân má lên cắt móng cho má, lại thấy móng dày thêm sớ, phèn che bít cái phần hột gạo đục ở trong, vàng hoe hoe vàng.  Dưới gan bàn chân, chai nhiều chỗ, phía gót thì nứt nẻ như đồng khô mùa hạn.  Gió trở bấc, chỗ nứt tứa máu, lại nứt sâu hơn” (tr. 182/183).  Hồi nhỏ, tôi không để ý coi bàn chưn má tôi ra làm sao, nó có trần ai như vậy không.  Chớ bàn tay đục đẽo của ba tôi thì ly kỳ lắm!  Ô dề kịch cợm thì chẳng nói gì.  Đằng này, móng tay của ba tôi nó dày mo, không có kềm đục nào mà cắt cho nổi.  Chỉ còn nước lấy cưa thợ mộc ra mà cưa vòng vòng – như người ta cưa sừng nai vậy đó.  Mạt cưa và móng tay rớt ra cả đống.  Chịu thua ông già!
 
Quanh năm suốt tháng loay hoay với lúa gạo nên má Tư gắn bó cả cuộc đời mình vào cây lúa.  Theo má tin, lúa có linh hồn.  Không biết má trao cho đám lúa còn non nớt kia bao nhiêu tình thương yêu, bao nhiêu hy vọng (…)  Bà có tình thương yêu ruột ràng vào cây lúa, bà tin tưởng mạnh mẽ vào kinh nghiệm nắng sương mấy mươi mùa ròng rã của mình.  Để coi, tính mùa này nữa, má tôi làm ruộng suốt 38 năm” (tr. 180).  Ba mươi tám năm má gieo mạ, má trồng lúa, má chăm sóc lúa, má gặt lúa, má gánh lúa, má đập lúa, má tải lúa…  Cực quá là cực!  Bởi lẽ đó mà suốt nhiều năm qua, má chỉ mơ ước có mỗi một cái máy vừa gặt lúa vừa đập lúa.  “Khi mà đồng đất đã biền biệt bóng trâu, bạn chịu khó đẩy xuồng trên ruộng cạn, tải từng bó lúa như ba má tôi dưới nắng hè.  Má tôi đã bao nhiêu năm rồi đẩy vơi vơi trời biển” (tr. 181).  Làm nông dân cả một đời cực khổ, má sống chết với ruộng, với lúa, với từng hột gạo.  Bởi lẽ đó, khi nghe ông Y thâm lạm chục ngoài tỉ, má buồn khủng hoảng luôn.  “Quen nết nông dân, bà tính, được số tiền đó bà phải làm ruộng chắt mót suốt… đời.  Lúa rẻ rề, một giạ vài chục ngàn, mấy ông “ở trển” làm mất tính ra hàng tỉ tỉ giạ chớ ít đâu” (tr. 183).  Hàng tỉ tỉ giạ bị thất thoát!  Còn ai bụng dạ nào mà tiếp tục sống chết nhọc nhằn với lúa, tiếp tục nghèo xơ nghèo xác, tiếp tục lặn lội năm này qua năm khác, mùa này qua mùa khác, rốt cuộc nghèo vẫn hoàn nghèo.
 
Nhưng má chỉ nhọc nhằn có một mình ên má thôi sao?  May mắn thay, má có một đứa con gái chí hiếu và đảm đang số một.  Tư đã từng sát cánh theo má lặn lội vất vả, khổ “cực trần ai khoai củ” trên khắp các kinh rạch, để đi bán gạo bằng xuồng.  Có khi kinh rút nước, lạch cạn teo chỉ còn lại bùn.  Vô phương bơi xuồng.  Bèn nghĩ ra cách tải gạo tải cám bằng xe đạp.  Tư rành cái vụ này lắm!  Đủ thứ sáng kiến.  Nhưng “ai khen tôi giỏi lòng má tôi cũng đau, vì đã để tôi dang dở con đường học tập”“ (tr. 157).  Rồi có lần Tư theo má đi mua so đũa về để bán lại ngoài chợ quê, cũng vẫn bằng xuồng.  Khi về xuồng phải vượt qua một con đập.  Nhằm lúc mưa nhiều, đập xả nước kinh tràn ra như thác, lăm le nhận chìm chiếc xuồng khẳm lừ.  “Má chống chỏi đằng lái, tôi nhảy ào xuống nước nắm mũi xuồng kéo đi, qua đập, ướt như con chuột, má khen tôi giỏi mà sao nước mắt má rươm rướm vậy?” (tr. 156).
 
Thấy người ta đi theo chủ trương chuyển dịch sản xuất, nuôi tôm kiếm được nhiều tiền quá, má cũng muốn chuyển sang nghề nuôi tôm để thử thời vận.  Nhưng rồi “bão tôm” thổi tới, tôm chết như rạ.  Tuy nhiên, má cũng vẫn cứ thử nữa.  Thử nữa, năm này qua năm khác, và Chờ đợi những mùa tôm tới.  Bởi lẽ “Má và con tin rằng, dù lần lữa rồi thì những mùa tôm sẽ tới.  Nó sẽ tới để thay đổi số phận, cuộc đời mỗi người (…) Những con người lam lũ cực nhọc cả đời xứng đáng được trả công” (tr. 122).  Với tấm lòng ngay thẳng quê mùa chất phác suốt cả đời mình, má luôn luôn hằng tin như vậy.  Vái trời cho niềm tin của má trở thành sự thật trong tương lai.  Một tương lai thiệt gần, trong lúc má hãy còn sống.  Còn sống để cho con kịp về thăm.
 
                                Con cũng muốn về thăm lại má
                                Thăm dòng sông Hậu nắng lưa thưa
                                Có cây dừa lão thân gầy quá
                                Đứng khóc theo mùa con nước đưa…
                                                                       
Cám ơn Tư đã ân cần dẫn dắt tôi về thăm lại miền đất Hậu giang, nơi Tư và tôi đã sinh ra và lớn lên một thời.  Cám ơn Tư đã đưa tôi tới thăm Ngọn đèn không tắt ở cái Xóm Rạch nhỏ nhít, đưa tôi đi đón Giao thừa trong một chợ tết còn ngổn ngang dưa hấu và hoa xuân.  Tư cũng đã dắt tôi lội bộ rã chưn băng qua Cánh đồng bất tận.  Và cuối cùng Tư đã đưa tôi tới gặp gỡ bà con mình trong Tạp văn để thấu hiểu và cùng chia sẻ những nhọc nhằn, những khó khăn mà người nông dân tay lấm chân bùn phải đối đầu trong cuộc vật lộn với những bất trắc của thời tiết, của đời sống, của mưa gió từng mùa, từng năm, từng tháng, từng ngày.  Đi với Tư trong chuyến viễn du, tôi cũng đã có dịp khám phá lại những trận nắng Tiền giang rát da, và những cơn mưa Hậu giang rượi mát.  Cám ơn Tư, cám ơn Tư.
  
Nhờ Tư, thình lình tôi sực nhớ lại hết những người đã ân cần dìu dắt tôi đi suốt một quãng đường dài đầy bất ngờ, cho tôi nhận ra rằng, dù tôi có vấp ngã nhiều lần,  cuộc đời này vẫn hết sức vồn vã, hết sức nồng nàn, hết sức đẹp đẽ.  Những người thân, những cô gái đã cùng tôi chia sẻ một thời những cuộc tình hừng hực, những mái nhà ấm cúng, những bữa cơm đạm bạc, những vui buồn lớn nhỏ, giờ đây đã nằm sâu trong lòng đất.  Lần nào về thăm quê hương, tôi cũng cố lặn lội đường sá trắc trở để được tới quỳ lạy và thắp một nén nhang tưởng niệm trên mộ ba má mình.  Nhưng mộ của Tuyết, tôi không biết nó nằm nơi nào, và cũng chưa hề một lần tới thăm.  Trải qua biết bao cuộc binh đao ngụt trời lửa sắt, biết bao cuộc tang thương vật đổi sao dời, ngôi mộ vùi chôn thân thể dấu yêu một thời ôm ấp, giờ đây chắc chỉ còn là một nấm đất mòn lạng hoang tàn…
 
                                Mưa Hậu giang nắng Tiền giang
                                Nhiều đêm không ngủ dạ mơ màng
                                Nhớ người nhớ đất mùi quê cũ
                                Ôi nắng Tiền giang mưa Hậu giang!
 (trích đoạn từ “Sông nước Hậu giang  và Nguyễn Ngọc Tư” cuả ông Kiệt Tấn)